CHẨN ĐOÁN TẮC VÒI TỬ CUNG

Trang chủ Khám tiền hôn nhân CHẨN ĐOÁN TẮC VÒI TỬ CUNG

Vòi tử cung

Vòi tử cung ( hay còn gọi là vòi trứng) là một bộ phận thuộc bộ phận sinh dục trong. Nó là một đoạn ống thông hẹp, dài từ buồng trứng tới tử cung, một đầu hở mở vào ổ bụng, một đầu thông với tử cung. Vòi tử cung chia làm 4 đoạn: đoạn thành, đoạn eo, đoạn bóng và đoạn loa vòi.

Hình 1: Cấu tạo vòi tử cung

Khi buồng trứng phóng noãn thì tua vòi bắt lấy noãn rồi chuyển qua vòi tử cung vào buồng tử cung. Sự thụ thai và quá trình phát triển ban đầu của hợp tử xảy ra ở trong vòi tử cung. Sau khi phóng noãn khoảng 60 – 70 giờ, trứng sẽ di chuyển từ vòi tử cung vào trong buồng tử cung. Ngược lại với sự di chuyển của noãn là sự di chuyển của tinh trùng. Sự di chuyển này phụ thuộc vào tính chất của tế bào lông trong vòi trứng cùng với sự co bóp của vòi trứng.

Tắc vòi tử cung gây vô sinh nữ

Ống dẫn trứng bị tắc sẽ ngăn cản trứng và tinh trùng di chuyển và gặp được nhau để thụ thai. Dù trứng khi đã gặp tinh trùng và thụ thai nhưng không thể di chuyển vào bên trong tử cung sẽ bị tắc lại và làm tổ trực tiếp tại vòi tử cung. Tuy nhiên vòi trứng lại không phải là vị trí thích hợp để nuôi dưỡng bào thai, khi bào thai tăng kích thước, vòng trứng không giãn nở kịp sẽ gây vỡ thai và xuất huyết tại vòi trứng. Tình trạng này còn được nhắc đến là chửa ngoài dạ con. Thai ngoài tử cung bị vỡ sẽ gây xuất huyết tại ổ bụng và vòi trứng, nếu không được cấp cứu kịp thời có thể mất máu nhiều dẫn đến tử vong hoặc người bệnh có thể bị cắt một bên vòi trứng của mình.

Theo số liệu thống kê được, vô sinh nữ chiếm khoảng 40% trong các trường hợp vô sinh, trong đó các nguyên nhân gây vô sinh nữ phổ biến như không rụng trứng khoảng 20 – 40% tùy độ tuổi, vô sinh do tắc vòi trứng từ 30 – 40%, lạc nội mạc tử cung khoảng 10 – 20%, không rõ nguyên nhân chiếm khoảng 10%, và thường gặp là các trường hợp có nhiều hơn một nguyên nhân. Qua đó có thể thấy vô sinh nữ do tắc vòi trứng chiếm tỉ lệ khá cao và cần đáng lưu tâm.

Một số phương pháp chẩn đoán tắc vòi tử cung

Với sự tiến bộ của y học hiện đại, hiện nay có rất nhiều kĩ thuật chuẩn xác để có thể đưa ra khẳng định bệnh nhân có bị tắc vòi tử cung hay không. Điển hình có thể kể tới kĩ thuật bơm hơi tử cung – vòi trứng, chụp tử cung – vòi trứng, kĩ thuật nội soi hoặc sử dụng các chỉ số đánh giá tổn thương vòi tử cung hay sử dụng các chỉ số đánh giá độ dính.

Bơm hơi tử cung – vòi trứng:

Phương pháp này thường được chỉ định trong các trường hợp kiểm tra vòi trứng với điều trị vô sinh, bơm hơi dưới áp lực lớn để điều trị tắc vòi trứng

Trong kĩ thuật này sẽ sử dụng CO2 để bơm vào buồng tử cung rồi theo dõi xem hơi có thoát qua vòi trứng vào ổ bụng được hay không.

Nếu bệnh nhân xuất hiện cảm giác đau lan lên hố thượng đòn, có biểu đồ hình răng cưa khi hơi qua vòi trứng và khi đặt ống nghe trước và sau khi bơm hơi nghe được tiếng thổi trong ổ bụng và biết được bên nào thông bên nào không thông. Cho bệnh nhân chụp X-Quang thấy liềm hơi giữa gan và cơ hoành. Thì có thể chẩn đoán được bệnh nhân tắc vòi tử cung.

Tuy nhiên hạn chế của phương pháp là không xác định được chính xác vị trí tắc vòi tử cung ở đâu và có nhiều tai biến như vỡ vòi trứng, tắc mạch hơi, nhiễm khuẩn ngược,… Vì vậy hiện nay phương pháp này không còn được áp dụng nữa.

Chụp tử cung – vòi trứng:

Đây là phương pháp thăm dò ống cổ tử cung, hai vòi tử cung và buồng tử cung nhờ bơm một chất cản quang từ cổ tử cung vào lòng tử cung.

Tiến hành chụp vào ngày thứ 8 đến ngày thứ 10 của vòng kinh khi không có dấu hiệu nhiễm trùng phụ khoa, có thai, rong kinh,…

Qua phim chụp  cho ta biết tình trạng buồng tử cung và vòi tử cung. Độ đặc hiệu của phương pháp này cao tới 83%.

Hình 2 Hình ảnh chụp tử cung –  vòi trứng

Phương pháp này có ưu điểm là xác định ống dẫn trứng, vòi trứng có thông suốt hay không đồng thời có thể xem xét được buồng tử cung có bất thường hay không. Tuy nhiên, hạn chế của nó là khó quan sát được những tổn thương bên ngoài vòi trứng cũng như niêm mạc ở vòi trứng. Đôi khi phương pháp này không cho kết quả chính xác bởi chất cản quang gây co thắt vòi trứng.

Không áp dụng phương pháp này với những phụ nữ nghi ngờ hoặc có thai, người bị dị ứng với chất cản quang, hoặc người đang bị chảy máu âm đạo.

Phẫu thuật nội soi

Đây là phương pháp thường được chỉ định rộng rãi trong chẩn đoán và điều trị vô sinh vì vừa có giá trị chẩn đoán, vừa có giá trị điều trị do quan sát và đánh giá được trực tiếp tổn thương.

Đây được xem như phương pháp có nhiều ưu điểm và thường được chỉ định áp dụng. Siêu âm nội soi có thể phát hiện tổng quát nhiều bất thường liên quan đến tử cung và phần phụ (vòi trứng, buồng trứng, dây chằng quanh tử cung vòi trứng). Qua đây có thể theo dõi được sự phát triển của nang noãn, chẩn đoán được thai sớm, thai trong hay ngoài tử cung, viêm dính phần phụ, ứ dịch hoặc ứ mủ ở vòi trứng, khối u buồng trứng hay tử cung…

Chỉ số đánh giá tổn thương vòi tử cung

Các chỉ số đánh giá dựa vào 3 yếu tố:

Độ thông vòi tử cung

Niêm mạc vòi tử cung

Thành vòi tử cung qua hình ảnh chụp tử cung vòi trứng và nội soi chẩn đoán.

Chỉ số đánh giá độ dính

Các chỉ số đánh giá độ dính quanh vòi tử cung lần lượt đánh giá độ dày/ mỏng/ dính hay không của buồng trứng và vòi tử cung rồi phân làm 3 giai đoạn: nhẹ, vừa, nặng.

Tuy nhiên, để kiểm tra vòi trứng có bị tắc nghẽn hay không, các bác sĩ thường chỉ định chụp tử cung vòi trứng vì nó cho kết quả chính xác hơn. Và sẽ được khuyến cáo làm thêm các chỉ định đánh giá để đánh giá tình trạng bệnh hiện tại của bệnh nhân nếu mắc. Do vậy người bệnh cần hết sức lưu ý tới sức khỏe sinh sản và cần sớm gặp bác sĩ để biết được tình trạng sức khỏe của bản thân và có những phương hướng điều trị sớm để đạt hiệu quả điều trị cao.

Chia sẻ bài viết
  •  
  •  
  •  
  •  
  •